• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, DÂN SỐ
1. Vị trí địa lý
Tỉnh Trà Vinh là một trong 13 tỉnh, thành phố của đồng bằng sông Cửu Long, nằm về phía hạ lưu giữa sông Tiền và sông Hậu và giáp với biển Đông. Nhìn một cách tổng thể, tỉnh Trà Vinh có dạng như một hình tứ giác, với diện tích đất tự nhiên là 234.116 ha (chiếm 5,77% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long; chiếm 0,71% diện tích cả nước).
Trong hệ thống tọa độ địa lý, tỉnh Trà Vinh có vị trí giới hạn từ 9031, 46, đến 1004,45, vĩ độ Bắc và từ 105057'16'' đến 106036'04'' kinh độ Đông. Địa giới hành chính của tỉnh Trà Vinh là: Phía Bắc và Đông Bắc tỉnh Trà Vinh giáp với tỉnh Bến Tre, có ranh giới là sông Cổ Chiên (một nhánh của sông Tiền), dài gần 60 km. Phía Nam và Tây Nam giáp với tỉnh Sóc Trăng, có ranh giới là sông Hậu, dài gần 60 km. Phía Tây giáp với tỉnh Vĩnh Long. Phía Đông và Đông Nam giáp với biển Đông, bờ biển dài 65 km, với cửa Định An (sông Hậu) và cửa Cung Hầu (sông Cổ Chiên), nằm trên địa bàn ba huyện Cầu Ngang, Châu Thành và Duyên Hải.

Do nằm ở hạ lưu sông Tiền và sông Hậu, tỉnh Trà Vinh có địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao trên dưới 1m so với mực nước biển. Địa hình của tỉnh Trà Vinh khá phức tạp do sự chia cắt của các giồng cát và hệ thống trục lộ, kênh rạch chằng chịt. Nhiều vùng trũng xen kẽ với các giồng cát cao, chiều hướng của độ dốc chỉ được thể hiện trên các cánh đồng. Phần phía Nam của tỉnh Trà Vinh là vùng đất thấp, bị chia cắt bởi các giồng cát hình cánh cung, nhiều nơi chỉ có độ cao từ 0,5m đến 0,8m so với mực nước biển. Do đó, những nơi này thường bị ngập mặn từ 3 đến 5 tháng/năm.
2. Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Trà Vinh có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng như: khí hậu, đất đai, sông rạch, động thực vật, thủy, hải sản...
2.1. Khí hậu
Tỉnh Trà Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Gió ở tỉnh Trà Vinh thuộc loại gió mùa của đồng bằng ven biển nằm trong khu vực chí tuyến, phân bổ hàng năm như sau: tháng 01 và 02 gió từ cấp 3 đến cấp 4 theo hướng Đông Nam (gió chướng); tháng 3 và 4 gió từ cấp 3 đến cấp 4 theo hướng Tây Nam; tháng 5 và 6 theo hướng Tây Nam chính gọi là thời điểm hội tụ gió mùa; tháng 7 và tháng 12 gió chuyển theo hướng Đông Nam rồi Đông Bắc với sức gió trung bình ở cấp 2.
Do đặc thù của vùng ven biển, nên khí hậu tỉnh Trà Vinh thường có hiện tượng như: độ bốc hơi cao, mưa ít, gió chướng mạnh...Lượng mưa ở Trà Vinh ở mức trung bình thấp (1500-1627mm) và phân bổ không ổn định. Lượng mưa giảm dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất là huyện Càng Long và thành phố Trà Vinh, thấp nhất là huyện Cầu Ngang và huyện Duyên Hải. Chế độ mưa nắng theo 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa nắng. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm và thường có những đợt nắng gay gắt liên tiếp từ 5 đến 10 ngày xen giữa mùa mưa (tháng 7 và tháng 8) gây ra hạn hán. Nhân dân địa phương gọi hiện tượng này là "hạn bà chằn".
Nhiệt độ trung bình của tỉnh Trà Vinh hàng năm từ 25 độ đến 27 độ. Vào mùa mưa, nhiệt độ cao nhất khoảng 32 độ và thấp nhất khoảng 21 độ. Vào mùa khô, nhiệt độ cao nhất khoảng từ 33 đến 34 độ và thấp nhất khoảng từ 23 đến 24 độ.
Độ ẩm của tỉnh Trà vinh vào mùa khô từ 76% đến 86% và mùa mưa từ 86% đến 88%.
Nhìn chung, khí hậu của tỉnh Trà Vinh tương đối ôn hòa, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và ổn định cuộc sống cho người dân địa phương.
2.2. Đất đai
Đất đai tỉnh Trà Vinh được hình thành từ lâu đời với những thăng trầm do quá trình kiến tạo địa chất, với những lần "biển lùi", "biển tiến",...Do đó, tỉnh Trà Vinh là một dải đồng bằng ven biển, không núi đồi, được phù sa của sông Tiền và sông Hậu bồi đắp hàng năm. Xét về mặt địa chất, tỉnh Trà Vinh có trầm tích trẻ với nguồn gốc phù sa sông biển, nên lượng khoáng sản không nhiều, chỉ có cát san lấp và đất sét dùng làm gạch ngói.
Tỉnh Trà Vinh có nhiều đất giồng cát và gò cao với hợp chất là cát pha đất sét, một số nơi có phù sa mùn. Đất giồng và gò có độ cao từ 2-5m so với mặt nước biển. Ngoài ra, còn có loại đất phù sa nằm ven sông Cổ Chiên và sông Hậu. Hàng năm, lượng phù sa từ 2 con sông này bồi đắp để hình thành một lớp đất màu mỡ ở ven bờ, ở các cồn, cù lao rất phù hợp cho việc trồng cây ăn trái. Đất phù sa ở phía sông Hậu tạo nên cù lao Tân Qui, cồn Bần Chát (Cầu Kè). Phía sông Cổ Chiên có cù lao Long Trị (thành phố Trà Vinh), cồn Hô (huyện Càng Long), cồn Chim, cồn Phụng, cù lao Long Hòa, Hòa Minh (huyện Châu Thành), cồn Bần, cồn Nghêu (huyện Cầu Ngang),...
Đất đai ở ven biển tỉnh Trà Vinh có sự thay đổi theo thời gian, càng ngày càng lấn dần ra biển. Từ năm 1940 đến nay, mũi Ba Động (Duyên Hải) đã lấn ra biển hàng km. Hàng năm, đất được bồi tiến ra biển từ 30-50m. Ở thị trấn Duyên Hải có mỏ nước khoáng với thành phần Bicacbonat Natri khá lớn. Khả năng cho phép khai thác vào khoảng 2.400 mét khối/ngày.
Nhìn chung, đất đai tỉnh Trà Vinh phong phú và đa dạng, góp phần tạo nên nhiều hệ sinh thái, động thực vật cùng tồn tại. Đây là một nguồn tài nguyên quý giá của tỉnh.
2.3. Sông, rạch, biển
Nhìn tổng thể, tỉnh Trà Vinh như một dải cù lao nằm giữa giữa sông Tiền và sông Hậu. Càng tiến ra biển Đông, hai con sông này càng rộng hơn, lượng nước lớn hơn. Đây được xem như 2 mạch dẫn cho cả hệ thống sông, rạch, kênh đào, giúp chúng lưu thông, tuần hoàn. Mạng lưới sông, rạch được chia theo 3 hệ thống: hệ thống đổ ra sông Cổ Chiên, hệ thống đổ ra sông Hậu, hệ thống đổ ra biển Đông. Với hệ thống sông rạch chằng chịt, tỉnh Trà Vinh có mạng lưới giao thông đường thủy nối liền các địa phương trong tỉnh và các nơi khác, tưới tiêu ruộng đồng, phục vụ nông nghiệp, cung cấp nguồn thủy sản trên sông và nguồn phù sa vô tận, cân bằng sinh thái,...là một tiềm năng lớn của tỉnh.
Bờ biển của tỉnh Trà Vinh dài 65 km với 2 cửa sông: Định An và Cung Hầu. Biển có độ sâu từ 5,5 m đến 23,8 m, có đà sóng lớn; ít cát, nhiều phù sa, phần lớn là bãi bùn. Do phù sa, do bãi bùn và do trường sóng lớn, nên nước biển hiếm khi trong xanh, phần lớn có màu nâu đục.
2.4. Động, thực vật
Với hệ thống sông rạch chằng chịt, đất đai khá màu mỡ và khí hậu ôn hòa, tỉnh Trà Vinh có hệ động, thực vật vô cùng đa dạng, là địa bàn sinh trưởng của nhiều loài, giống khác nhau.
Về phía đồng bằng, trên những con giồng cát và đồng bằng xưa kia là rừng dày, rừng rậm, rừng nhiều tầng. Dấu vết còn sót lại ngày nay là những cây cổ thụ ở khu vực Ao Bà Om (thành phố Trà Vinh). Nhiều loại gỗ quý hiện nay vẫn còn khá nhiều như: sao, dầu...Đây cũng là nơi cư ngụ của nhiều loài động vật như: Trâu, bò, dê, sóc, chuột, khỉ, kỳ đà, các loại rắn, chim cò...Vì thế, Trà Vinh có nhiều vườn chim thiên nhiên độc đáo như: Chùa Giồng Lớn (Trà Cú), chùa Hang (Châu Thành)...
Về phía ven biển, là hệ thống rừng ngập mặn với các loại cây mắm, bần, sú, vẹt,... thuộc các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, Trà Cú, Châu Thành. Diện tích rừng và đất rừng ven biển khoảng 24.000 ha. Các loài thủy, hải sản ven biển cũng khá phong phú với khoảng 40 họ, 78 giống và 150 loài, bao gồm cá biển ven bờ, cá nước lợ và cá di trú.
Sự phong phú và đa dạng về động, thực vật đã cung cấp cho tỉnh Trà Vinh nhiều tài nguyên thiên nhiên, là tiềm năng, lợi thế phục vụ cho việc khai thác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần cải thiện đời sống của Nhân dân.
3. Lịch sử hình thành và phân chia hành chính qua các thời kỳ
3.1. Lịch sử hình thành
Sau khi chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ vào năm 1867, thực dân Pháp chia tỉnh Vĩnh Long cũ thành 3 tiểu khu (hạt tham biện) là Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre.
Địa danh Trà Vinh được xác lập là đơn vị hành chính cấp tỉnh đầu tiên dưới thời Pháp thuộc, theo Nghị định ngày 20/12/1899 của Toàn quyền Đông Dương trên cơ sở đổi tên gọi tiểu khu hay hạt tham biện, kể từ ngày 01/01/1900. Dưới thời Pháp thuộc, tỉnh Trà Vinh gồm 8 quận: Càng Long, Cầu Ngang, Cầu Kè (ban đầu thuộc tỉnh Cần Thơ, sau nhập vào tỉnh Vĩnh Long rồi thuộc tỉnh Trà Vinh), Châu Thành, Long Toàn (nay là huyện Duyên Hải), Tiểu Cần, Trà Cú và Trà Ôn.
Ngày 27/6/1951, Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ (thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) sáp nhập 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Trà, huyện Tiểu Cần được nhập vào huyện Càng Long. Tỉnh Vĩnh Trà tồn tại đến năm 1954.
Trong thời kỳ đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22/10/1956. Tuy nhiên, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi này mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Trà Vinh.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, theo Nghị định của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam về việc giải thể khu, hợp nhất các tỉnh ở miền Nam, tỉnh Trà Vinh sáp nhập với tỉnh Vĩnh Long thành tỉnh Cửu Long vào tháng 02/1976. Đến ngày 26/12/1991, theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10, tỉnh Cửu Long lại được tách thành hai tỉnh như cũ là Vĩnh Long và Trà Vinh. Như vậy, tỉnh Trà Vinh được tái lập và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 5/1992.
3.2. Các đơn vị hành chính tỉnh Trà Vinh
Tỉnh Trà Vinh hiện nay có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã và thành phố, 106 xã, phường, thị trấn, bao gồm: thành phố Trà Vinh(1) (9 phường, 01 xã), thị xã Duyên Hải(2) (2 phường, 5 xã), huyện Càng Long(3) (01 thị trấn, 13 xã), huyện Châu Thành (4) (01 thị trấn, 13 xã), huyện Cầu Kè(5) (01 thị trấn, 10 xã), huyện Cầu Ngang(6) (02 thị trấn, 13 xã), huyện Duyên Hải(7) (01 thị trấn, 06 xã), huyện Trà Cú(8) (02 thị trấn, 15 xã) và huyện Tiểu Cần(9) (02 thị trấn, 09 xã).
4. Địa lý dân cư - xã hội
a) Dân số
Với ưu thế của vùng đất ven biển, nằm giữa hai cửa sông lớn, địa hình lại có nhiều giồng cát và gò đất, tỉnh Trà Vinh sớm được tiếp nhận lưu dân người Việt (Kinh) - Khmer - Hoa đến bằng nhiều con đường nhờ vào những phương tiện giao thông đường thủy đương thời. Vì vậy, tỉnh Trà Vinh là nơi lưu dân người Việt (Kinh) -Khmer - Hoa hội tụ, định cư sớm hơn so với một số địa phương khác ở Nam bộ. Hai hình thái cư trú cơ bản của cư dân Trà Vinh lúc bấy giờ là phum, sóc của người Khmer và thôn, làng của người Việt (Kinh), người Hoa.
Theo thống kê, dân số tỉnh Trà Vinh năm 2013 là 1.027.012 người(10), là tỉnh có quy mô dân số nhỏ (đứng thứ 11/13 tỉnh, thành phố ở đồng bằng sông Cửu Long). Trong đó, 854.808 người (83,19%) dân số sống ở khu vực nông thôn; 172.707 người (16,81%) sống ở khu vực thành thị (thành phố và các thị trấn).
b) Cơ cấu dân số theo dân tộc
Tỉnh Trà Vinh là địa bàn chung sống lâu đời của ba dân tộc chính là người Kinh, người Khmer, người Hoa và một số ít các dân tộc khác.
Người Kinh có tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu dân số của tỉnh với 694.261 người, chiếm 67,57% dân số của tỉnh, cư trú khắp các địa bàn trong tỉnh nhưng tập trung nhiều nhất ở thành phố Trà Vinh, các thị trấn, thị tứ và các vùng đất ven sông rạch. Ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Trà Vinh là địa phương có đông đồng bào Khmer, đứng thứ hai ở đồng bằng sông Cửu Long (sau tỉnh Sóc Trăng), với 324.877 người, chiếm 31,62% dân số. Đồng bào Khmer có mặt ở các huyện, thành phố trong tỉnh, nhưng tập trung đông nhất ở huyện Trà Cú, Châu Thành, Cầu Ngang, Cầu Kè, Tiểu Cần... và sống tập trung thành các phum, sóc trên các giồng cát, ven các sông rạch hoặc ven đường giao thông xen kẽ với các ấp, khóm của người Kinh. Ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và một số ít làm dịch vụ.
Người Hoa có 7.690 người, chiếm 0,8% dân số của tỉnh. Người Hoa sống tập trung nhiều nhất ở thành phố Trà Vinh và các thị trấn. Ngành nghề chủ yếu là dịch vụ và sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Ngoài ra, còn có một số đồng bào các dân tộc ít người khác như: Chăm 163 người, Churu 53 người, Dao 39 người...
c) Cơ cấu dân số theo tôn giáo
Trà Vinh là tỉnh có nhiều tôn giáo, song các tôn giáo có tín đồ đông tập trung ở 3 tôn giáo chính là: Phật giáo (Nam tông và Bắc tông), Công giáo và Cao Đài. Tổng số người theo các tôn giáo là 569.999 người, chiếm 54,5% dân số của tỉnh. Trong đó, Phật giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất, với 498.930 người, chiếm 86% tổng số tín đồ các tôn giáo; tiếp đến là Công giáo với 54.370 tín đồ; Cao đài với 15.366 tín đồ. Còn lại là tín đồ của các tôn giáo khác như: Tin lành (634 người); Tịnh độ cư sĩ Phật hội (318 người); Hồi giáo (195 người); Phật giáo Hòa Hảo (142 người); Bửu sơn Kỳ hương (19 người); Tứ Ân hiếu nghĩa (16 người); Minh sư đạo (07 người)...Sự đa dạng về tôn giáo đã tạo ra sự đa dạng về bản sắc văn hóa. Mặc dù có sự đa dạng về tôn giáo, song cộng đồng các tôn giáo trên địa bàn tỉnh luôn đoàn kết, hòa đồng, tương thân tương ái, sống tốt đời đẹp đạo.
Chú thích:
(1) Thành phố Trà Vinh bao gồm Phường 1,2,3,4,5,6,7,8,9 và xã Long Đức.
(2) Thị xã Duyên Hải gồm: Phường I, phường II, xã Long Toàn, Long Hữu, Trường Long Hòa, Dân Thành và Hiệp Thạnh.
(3) Huyện Càng Long bao gồm: Thị trấn Càng Long và các xã: Mỹ Cẩm, An Trường, An Trường A, Tân An, Tân Bình, Huyền Hội, Phương Thạnh, Bình Phú, Đức Mỹ, Nhị Long, Nhị Long Phú, Đại Phước, Đại Phúc.
(4) Huyện Châu Thành bao gồm: Thị trấn Châu Thành và các xã: Đa Lộc, Lương Hòa, Lương Hòa A, Long Hòa, Hòa Minh, Hòa Lợi, Hòa Thuận, Phước Hảo, Nguyệt Hóa, Song Lộc, Hưng Mỹ, Thanh Mỹ, Mỹ Chánh.
(5) Huyện Cầu Kè bao gồm: Thị trấn Cầu Kè và các xã Phong Thạnh, Phong phú, Hòa Ân, Hòa Tân, An Phú Tân, Ninh Thới, Tam Ngãi, Thông Hòa, Thạnh Phú, Châu Điền.
(6) Huyện Cầu Ngang bao gồm: Thị trấn Cầu Ngang, Thị trấn Mỹ Long và các xã: Mỹ Long Bắc, Mỹ Long Nam, Mỹ Hòa, Thuận Hòa, Hiệp Mỹ Đông, Hiệp Mỹ Tây, Hiệp Hòa, Kim Hòa, Nhị Trường, Trường Thọ, Long Sơn, Thạnh Hòa Sơn, Vinh Kim.
(7) Huyện Duyên Hải bao gồm: Thị Trấn Long Thành và các xã: Long Khánh, Long Vĩnh, Đông Hải, Ngũ Lạc Đôn Xuân, Đôn Châu..
(8) Huyện Trà Cú bao gồm: Thị trấn Trà Cú, Thị trấn Định An và các xã: Ngãi Xuyên, Long Hiệp, Tân Hiệp, Ngọc Biên, Tập Sơn, Thanh Sơn, Tân Sơn, Kim Sơn, Phước Hưng, Đại An, Định An, Hàm Giang, Hàm Tân, An Quãng Hữu, Lưu Nghiệp Anh,
(9) Huyện Tiểu Cần bao gồm: Thị trấn Tiểu Cần, Thị trấn Cầu Quan và các xã: Phú Cần, Hiếu Tử, Hiếu Trung, Tập Ngãi, Ngãi Hùng, Tân Hùng, Hùng Hòa, Tân Hòa, Long Thới.
(10) Số liệu của Cục thống kê năm 2013.

SmartNews.com

forter2

Switch mode views: